Home/Bước tiến vượt bậc trong việc giảm 70-80% tỷ lệ tái nhập viện do suy tim – Bằng cách nào và ở đâu?

Bước tiến vượt bậc trong việc giảm 70-80% tỷ lệ tái nhập viện do suy tim – Bằng cách nào và ở đâu?

Thông tin chuyên sâu chẩn đoán
Ý kiến chuyên môn

Key Takeaways

  • Tỷ lệ suy tim đang gia tăng ở Thái Lan chủ yếu là do dân số già hóa và những cải tiến trong việc chăm sóc tim mạch.
  • Những nhu cầu chưa được đáp ứng ở Thái Lan là giáo dục, nhận thức thấp về các triệu chứng suy tim và công nghệ điều trị suy tim.
  • Bệnh viện Chulalongkorn, Bangkok đã rất thành công trong việc giảm tỷ lệ tái nhập viện do suy tim, nhờ vào nhiều yếu tố như có một đội ngũ đa ngành k gồm các điều dưỡng viên về suy tim, dược sĩ về suy tim và bác sĩ tim mạch để theo dõi và giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc cách kiểm soát tình trạng bệnh. Chương trình về Suy tim tại bệnh viện giúp bệnh nhân được áp dụng phác đồ theo hướng dẫn (GDMT) tối ưu từ Giai đoạn A, B đến C và có thể ghép tim cùng với thiết bị hỗ trợ tâm thất trái (LVAD) ở Giai đoạn D.
  • Xét nghiệm NT-proBNP có thể đóng vai trò như một "người gác cổng" giúp phân loại bệnh nhân ở giai đoạn sàng lọc và chẩn đoán cũng như theo dõi bệnh nhân.

Tình hình quản lý suy tim hiện nay ở Thái Lan như thế nào? Theo quý vị, đâu là những nhu cầu lớn nhất chưa được đáp ứng trong lĩnh vực này?

Tỷ lệ mắc bệnh suy tim đang gia tăng ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Thái Lan.
Điều này là do dân số già đi và việc chăm sóc tim mạch được cải thiện. Hiện nay, suy tim là một trong những chẩn đoán nhập viện thường gặp nhất ở bệnh nhân. Khi nói đến nhu cầu chưa được đáp ứng, có hai điều cần lưu ý. Một là giáo dục hoặc nâng cao nhận thức về các triệu chứng của suy tim cho cả cộng đồng và nhân viên y tế. Nhu cầu chưa được đáp ứng thứ hai là công nghệ điều trị suy tim.

Phòng khám suy tim tại bệnh viện Chulalongkorn có thể giúp giảm tỷ lệ tái nhập viện của bệnh nhân suy tim tới 70-80% như thế nào? Hành trình của bệnh nhân suy tim diễn ra như thế nào?

Phòng khám suy tim đóng vai trò là cửa ngõ giúp bệnh nhân chuyển từ điều trị nội trú sang điều trị ngoại trú. Phòng khám suy tim giúp giáo dục bệnh nhân cách chăm sóc bản thân, đồng thời trao quyền cho bác sĩ đưa ra liệu pháp điều trị tốt nhất cho từng bệnh nhân. Và nhờ việc tiếp cận phòng khám như vậy, tỷ lệ bệnh nhân phải tái nhập viện đã giảm.

Thông thường, bệnh nhân suy tim có thể biểu hiện theo hai cách. Thứ nhất, họ có nguy cơ mắc bệnh suy tim và có các triệu chứng điển hình như khó thở hoặc các triệu chứng tim mạch khác và phải trải qua quá trình kiểm tra ngoại trú để chẩn đoán suy tim. Hoặc họ có thể bị khó thở khởi phát đột ngột và phải đến phòng cấp cứu và được nhập viện vì suy tim cấp. Và khi họ đã nhập viện, đội ngũ điều trị suy tim sẽ giúp chăm sóc bệnh nhân và theo dõi sau đó.

Điều chúng tôi đang làm thực sự tốt là cách chúng tôi sử dụng nhóm đa ngành, bao gồm điều dưỡng viên chuyên khoa suy tim, dược sĩ chuyên khoa suy tim và người quan trọng nhất là bệnh nhân và người chăm sóc. Hai điều này đang giúp chúng tôi chăm sóc bệnh nhân. Đồng thời, chương trình điều trị suy tim của chúng tôi có tất cả các liệu pháp điều trị được khuyến cáo trong hướng dẫn từ giai đoạn A đến B, cho đến thuốc ở giai đoạn C, và cả ghép tim và thiết bị hỗ trợ thất trái (LVAD) ở giai đoạn D. Với tất cả những liệu pháp điều trị toàn diện này, chúng tôi có thể chăm sóc bệnh nhân từ mức có nguy cơ đến suy tim nặng.

Xét nghiệm NT-proBNP có vai trò và giá trị y khoa gì trong hành trình điều trị bệnh nhân suy tim theo quan điểm của bác sĩ tim mạch tại Thái Lan? Quý vị diễn giải xét nghiệm NT-proBNP như thế nào trong thực hành hàng ngày?

Trước đây, nếu nghi ngờ bệnh nhân bị suy tim, chúng tôi phải gửi bệnh nhân đi siêu âm tim. Tại Thái Lan, việc này do bác sĩ tim mạch thực hiện. Vì vậy, quý vị có thể tưởng tượng thời gian chờ đợi là khá lâu. Xét nghiệm máu như NT-proBNP có thể giúp chúng tôi tầm soát, chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân suy tim. Một khi chẩn đoán được thực hiện, chúng tôi có thể thực hiện quản lý kịp thời cho những bệnh nhân đó.

Xét nghiệm NT-proBNP là một xét nghiệm máu độc đáo vì mặc dù đây là một công nghệ mới, nó có thể mang lại nhiều lợi ích hơn cho việc chăm sóc ban đầu hoặc không phải bác sĩ tim mạch. Vì xét nghiệm có thể loại trừ chính xác bệnh nhân mà chúng tôi nghi ngờ bị suy tim hoặc làm cho khả năng cao hơn nếu họ kiểm tra dương tính và nó có thể trở thành một người gác cổng để giúp gửi bệnh nhân đến khám bác sĩ tim mạch.

Đồng thời, hầu hết các thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy lợi ích của việc điều trị suy tim đều có ngưỡng trị số NT-proBNP để giúp chúng tôi lựa chọn bệnh nhân phù hợp để điều trị phù hợp. Vì vậy, xét nghiệm máu đơn giản này có thể thực hiện ở mọi nơi, không cần đến bác sĩ tim mạch, có thể giúp theo dõi bệnh nhân.

Các bối cảnh lập khác nhau có ngưỡng trị số khác nhau. Tôi khuyến khích mọi người xem hướng dẫn này. Ở bệnh nhân ngoại trú, mức NT-proBNP trên 125pg/mL làm tăng khả năng suy tim. Còn đối với các trường hợp cấp tính, chẳng hạn như trong phòng cấp cứu, ở mức dưới 300pg/mL, chúng ta có thể loại trừ khả năng suy tim. Nhưng nếu trị số này vượt quá 450pg/mL thì nguy cơ suy tim sẽ cao hơn. Ngưỡng trị số có thể thay đổi tùy theo độ tuổi, thể trạng cơ thể và chức năng thận của bệnh nhân.

Sacubitril-valsartan là những thuốc mới trong nhóm thuốc có tên ARNI. Chữ “N” và “I” trong ARNI là chất ức chế neprilysin. Neprilysin ảnh hưởng trực tiếp đến nồng độ BNP nhưng không ảnh hưởng đến nồng độ NT-proBNP. Vì vậy, nếu bệnh nhân đang dùng nhóm thuốc này, hướng dẫn khuyến cáo nên sử dụng xét nghiệm NT-proBNP thay vì BNP.

Điều gì truyền cảm hứng để quý vị liên tục cải thiện việc quản lý suy tim trong công việc của mình?

So với các lĩnh vực khác trong tim mạch, lĩnh vực suy tim vẫn còn tương đối mới, nếu quý vị xét đến lịch sử đặt stent hoặc máy tạo nhịp tim. Còn nhiều điều chúng ta có thể làm cho bệnh nhân trong lĩnh vực này. Trong 20-30 năm trở lại đây, đã có nhiều loại thuốc mới, chiến lược điều trị mới và công nghệ mới. Mặc dù có tất cả những điều này, nhưng tỷ lệ nhập viện vì suy tim vẫn còn cao. Chính vì những kết quả đó đã thúc đẩy tôi cải thiện việc chăm sóc bệnh nhân.

Đồng thời, đây cũng là một trong những tình trạng bệnh ảnh hưởng rất nhiều đến bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Do các triệu chứng của bệnh, họ không thể tham gia nhiều hoạt động. Vì vậy, việc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và thấy họ có thể làm được nhiều điều hơn sẽ tạo động lực để chúng tôi giúp đỡ họ.

Hiện tại, quý vị có đang tìm hiểu các sáng kiến khác để tăng cường quản lý suy tim không, và quý vị đang thực hiện những biện pháp nào để tinh chỉnh các sáng kiến này?

Trọng tâm đã chuyển sang những gì chúng ta có thể làm khi bệnh nhân xuất viện để giảm số lần nhập viện. Bệnh viện của chúng tôi tham gia dự án cải thiện chất lượng của
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ có tên là Get With The Guideline. Điều này giúp chúng tôi kiểm tra xem mình đã làm tốt công việc chưa trước khi cho bệnh nhân về nhà. Và gần đây đã có một chiến lược mới về cách theo dõi bệnh nhân sau khi xuất viện. Nếu chúng ta thăm khám bệnh nhân thường xuyên hơn, nếu chúng ta theo dõi bệnh nhân cẩn thận và điều chỉnh thuốc, điều này có thể làm giảm tỷ lệ nhập viện do suy tim. Vì vậy tôi khuyến khích mọi người xem xét thử nghiệm STRONG-HF. Đây là cách mới để chúng ta có thể giúp đỡ bệnh nhân.

Quý vị sẽ tư vấn cho đồng nghiệp của mình như thế nào về việc cải thiện quản lý suy tim ở Châu Á – Thái Bình Dương?

Bằng sự chăm sóc mà chúng ta dành cho bệnh nhân, hãy hướng dẫn họ cách tự chăm sóc bản thân. Chỉ với xét nghiệm máu đơn giản và dùng thuốc, kết quả điều trị của bệnh nhân có thể thay đổi đáng kể. Đây là thông điệp mà tôi muốn gửi tới bạn đồng nghiệp của chúng ta. Ở Đông Nam Á, chúng ta bị hạn chế về chi phí chăm sóc, công nghệ, nhưng suy tim là một trong những hội chứng mà chỉ cần một điều đơn giản cũng có thể thay đổi kết quả điều trị của bệnh nhân.

Home/Quantum leap in reducing rehospitalization in HF by 70-80% – How and where?

Quantum leap in reducing rehospitalization in HF by 70-80% – How and where?

Diagnostics Insights
Expert Opinion

Key Takeaways

  • The prevalence of HF is increasing in Thailand mainly due to the aging population and improvement in CV care.
  • The unmet needs in Thailand are education and low awareness about HF symptoms and the technology for treatment of HF.
  • Reduction of HF readmission is very successful in Chulalongkorn Hospital, Bangkok due to many factors such as having a MDT composed of HF nurses, HF pharmacists and cardiologists who follow up and educate the patients plus their caregivers to manage the condition. The HF program at the hospital enables the patients to be on optimal GDMT from Stage A, B to C and availability of Heart transplant plus LVAD in Stage D.
  • NT-proBNP can act as a gatekeeper to help triage patients at screening and diagnostic stage plus for follow up of patients.

What is the current state of heart failure management in Thailand? And what in your opinion are some of the biggest unmet needs in this field?

The prevalence of heart failure has been increasing in many countries worldwide, include Thailand.
This is due to aging populations and improvement in cardiovascular care. Currently, heart failure is one of the most common admission diagnosis in patients. In terms of unmet need, two things come to mind. One is the education or the awareness about the symptoms of heart failure on both the general public and the healthcare provider. The second unmet need would be the technology for the treatment of the heart failure.

How is the HF clinic at Chulalongkorn hospital reducing rehospitalization of HF patients by up to 70-80%? What does the HF patient journey look like?

The heart failure clinic functions as a gateway for the patients to transition from inpatient to outpatient. The heart failure clinic helps educating the patients, how to take care of themselves and at the same time, empowers the physicians to make the best management for each individual patient.  And by having this access to the clinic, the percent of the patients who have readmission has been decreased.

Typically, heart failure patients can present in two way. One, they are at risk to develop heart failure and having typical symptoms of difficulty breathing or other cardiac symptoms and go through outpatients investigation for heart failure diagnosis. Or they can develop sudden onset dyspnea and present to the emergency room and be admitted for acute heart failure. And once they are in the hospital, the heart failure team would help taking care of the patients and also follow up afterward.

What we are doing really well is how we utilize the multidisciplinary team, include the heart failure nurse, the heart failure pharmacist, and the most important person would be the patients and the caregiver. Those two helping us taking care of them. At the same time, our heart failure program have all the treatments that are recommended in the guideline from stage A to B, to the medications in the stage C, and also heart transplant and LVAD in stage D. Having all these thorough comprehensive options of treatment, we can take care of the patient from at risk to advanced heart failure.

What is the role and medical value of NT-proBNP in heart failure patient journey from a cardiologist perspective in Thailand? How do you interpret NT-proBNP in your daily practice?

In the past, if we suspected that the patient may have heart failure, we may have to send the patient for the echocardiogram, which in Thailand is performed by a cardiologist. So you can imagine the waiting time is quite long. The blood test like NT-proBNP can help us screening, diagnosis, and follow the patient with heart failure. Once a diagnosis is made, we can make a timely management for those patients.

The NT-proBNP test is a unique blood test because even though this is a new technology, it may benefit more to the primary care or non cardiologist. Because of the test can accurately exclude the patients that we suspect having heart failure or make the likelihood higher if they test positive and it can become a gatekeeper to help sending the patients to see the cardiologist.

At the same times, most of the randomized controlled trial that show benefit of the treatment of heart failure have the NT-proBNP level cut-off to help us select the appropriate patient for the appropriate treatment. So this simple blood test that can be done anywhere, doesn’t need a cardiologist, can help managing the patient.

Different settings have a different cutoff. I encourage all the audience to look at the guideline. In outpatient setting, the NT-proBNP level above 125pg/mL make the heart failure more likely. And for the acute settings, such as in the emergency room, the level below 300pg/mL, we can safely rule out heart failure. But if the value become above 450pg/mL, that make heart failure more likely. The cutoff can vary with the patient age, body habitus, and the chronic kidney function.

Sacubitril-valsartan is the new medications in the class called ARNI. The “N” and “I” in ARNI is neprilysin inhibitor. The neprilysin directly affect the BNP level, but not the NT-proBNP level. So if the patient is on this class of medications, the guidelines recommend using NT-proBNP rather than the BNP level.

What inspires you to continuously improve the HF management in your practice?

Compared with other fields in cardiology, heart failure is still relatively new, if you think about how long we have been doing stenting or the pacemaker. There are many more things that we can do for the patient in this field. Over the last 20-30 years, there are new medications, new treatment strategy, and new technology. Even though with all of this, the incidentce of heart failure hospitalizations, the mortality rate is still high. So because of those outcomes that that drive me to improve the care of our patients.

At the same time, this is one of the conditions that affect patient and patient family a lot. They are not able to participate in many activities due to the symptoms. So improving their quality of life and seeing them able to do more that drive us to help them.

Are you currently exploring other initiatives to enhance the management of HF, and what steps are you taking to refine these initiatives?

The focus has shift to what we can do when the patient discharged from the hospital to decrease the hospitalizations. Our hospital participate in the quality improvement project of the
American Heart Association called Get With The Guideline. This help us checking ourselves that we have done a good job before sending the patient home. And recently there has been a new strategy, how to follow up the patients after the discharge. If we see the patient more frequent, if we carefully monitor the patient and adjust the medication, this can reduce the heart failure hospitalization. So I encourage the audience to look at the STRONG-HF trial. It is a new way that we can help the patients.

How would you advise your peers on improving HF management in Asia Pacific?

With the care that we give to the patients, teach them how to take care of themselves. With simple blood tests and medications, this can change the outcome of the patient a lot. So this is the message that I would like to send to our peer. In Southeast Asia, we are limited in terms of the costs of care, the technology, but heart failure is one of those syndromes that the simple thing can change the result of the patients.